Tản văn

Thương chảo gừng rim của bà

Năm nào cũng vậy, cứ mỗi độ giáp Tết, lòng tôi lại rộn ràng như có hội. Giữa bao bộn bề thường nhật, vẫn có một niềm mong chờ tôi chẳng thể gọi tên. Tôi thèm cảm giác sum họp, thèm cả mùi vị của tuổi thơ. Ai đó từng nói, còn có gia đình là còn có Tết. May mắn thay, tôi vẫn còn điều ấy.

Tôi mở lại cuốn album cũ, những tấm ảnh đã ngả màu theo năm tháng. Lũ trẻ ngày nào xúng xính áo mới bên hàng vạn thọ. Con đường dẫn vào sân từng rợp hoa huệ mưa, nay đã vắng bóng, chỉ còn mai vàng giăng kín lối. Tôi chấp nhận sự đổi thay, nhưng lòng vẫn luyến lưu.

Chiều ấy, nghe mẹ bảo Tết này bà không rim gừng nữa, tôi sững người. Tin nhỏ thôi, mà thấy lòng hụt hẫng như vừa mất đi một phần Tết cũ. Tôi quên cả hỏi mẹ rằng đám gừng bà trồng sau vườn giờ tính sao.

Mấy năm nay, ai cũng khuyên bà mua mứt gừng sẵn ngoài chợ cho đỡ cực. Bà chỉ cười hiền:

“Có làm mứt gừng mới thấy Tết chớ con.”

Tôi nhớ, hồi còn ông nội, bà vẫn thường rim gừng vào những ngày cuối năm. Bà bảo, ông mê nhất là món gừng rim cay nồng, vừa nhai vừa xuýt xoa, vừa cười. Ông đã đi hơn hai mươi năm, nhưng năm nào Tết đến, bà vẫn cặm cụi bên chảo gừng rim như một cách để nhớ ông.

Ngày nhỏ, tôi vẫn hay chạy sang nhà bà, năn nỉ được “phụ” làm mứt gừng. Thật ra, chỉ được xăm vài củ cho vui. Bà chiều, chọn sẵn những củ gừng nhỏ gọn, ít nhánh, đưa cho tôi cùng cây xăm nhẹ tay.

Nhưng lần nào tôi cũng vụng về, xăm trúng tay, nước gừng văng tung tóe, cay xè mắt. Bà chỉ cười, bàn tay nhăn nheo thoăn thoắt, đều đặn, khéo léo đến lạ.

Gừng xăm xong, bà cho vào chảo, thêm đường, bắt đầu rim. Tôi ngồi bên, ngắm bà đảo đều tay, nghe tiếng lách cách của đôi đũa dài trên chảo nóng. Mùi gừng cay nồng hòa cùng khói than hồng quyện khắp gian bếp nhỏ. Tôi rướn người hít hà, mặt đỏ hồng mà lòng thấy vui đến lạ.

Sau này, ở chợ bán đủ loại mứt, gừng lát mỏng, khô ráo, sáng màu chẳng giống chút nào những củ gừng rim thơm đậm, dẻo quánh của bà. Người ta dần muốn mọi thứ nhanh và tiện. Bánh trái ê hề, mứt gừng nhà bà chỉ còn vài người ăn. Có năm, chỉ tôi và bà ngồi bên hiên, nhẩn nha nhai miếng gừng dày cộm, cay mà ngọt, vừa ăn vừa tấm tắc khen ngon.

Thời gian trôi, số gừng bà rim cũng ít dần theo từng mùa Tết.

Có lần, tôi hỏi sao bà không thái lát mỏng như người ta, mà cứ rim nguyên củ. Bà chỉ cười, không nói.

Đến năm nay, nghe nói bà định nghỉ làm mứt gừng, tôi hỏi lại, bà bảo:

“Giờ bánh kẹo nhiều quá, gừng rim không ai ăn, bà nghỉ cho đỡ cực.”

Tôi nhìn sâu vào đôi mắt bà, thấy rõ những nếp nhăn hằn nơi khóe mắt. Tôi biết, lý do ấy không chỉ vì “không ai ăn”. Có những điều bà không nói ra, mà tôi thì sợ, những gì mình nghĩ là đúng.

Một hôm, tôi về thăm bà. Trong góc tủ kính, bộ dụng cụ xăm gừng nằm yên, phủ lớp bụi mỏng. Tôi đứng nhìn thật lâu. Hình ảnh hai bà cháu bên chảo gừng rim năm nào bỗng ùa về, cay cay nơi sống mũi.

Trên lò than đỏ rực, chảo gừng to sôi lăn tăn trong lớp nước đường sánh kẹo. Hơi nóng quyện cùng hương gừng lan khắp gian bếp. Mùi ấy, vị ấy từng là hương Tết, là hơi thở của sum họp, là ký ức trong veo của một thời thơ ấu.

Tôi khẽ nói:

“Bà ơi, năm nay cháu vẫn muốn được ăn gừng rim của bà.”

Bà tôi ngồi đó, lại cười giòn tan. Ánh mắt hiền từ ánh lên giữa buổi chiều nhạt nắng.

Gửi bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *