Nở ơi!
1. Nhà thị có ba chị em, thị là con lớn. Người ta gọi hai đứa em của thị, một đứa là thằng câm, đứa nữa là thằng khờ. Chỉ mỗi thị được gọi bằng tên – Nở. Thị không nhớ bắt đầu từ khi nào thị bước chân vào công việc hiện tại, hình như lâu lắm, thị cảm giác được vậy. Hằng ngày, thị đi cùng mẹ ra chợ, rồi ngửa tay xin tiền, xin đồ ăn. Thị sở hữu một thân hình nặng nề, cục mịch, thị ghét thân hình của mình. Bọn trẻ con xung quanh xóm thị sống, hễ thấy thị là chọc ghẹo, hệt như thân hình đồ sộ của thị chính là một lầm lỗi. Thị mệt, thị chán. Nhưng thị thương hai đứa em. Rồi thị ráng. Mẹ thị bảo với thị rằng năm sau thị đủ mười tám tuổi, thị sẽ không phải đi ăn xin nữa. Mẹ thị sẽ tìm một việc gì đó để thị làm công. Thị chờ đợi cái ngày đó, thị tin nó sẽ mở ra cho thị một con đường mới tươi sáng và đẹp đẽ hơn.
***
Tôi vừa từ trường trở về nhà, thoáng thấy nhà không có ai và nghe được những thanh âm quen thuộc. Tôi bỏ vội balo xuống, rồi chạy ù sang nhà cô hai, tôi chọn cho mình một vị trí thuận lợi nhất để quan sát câu chuyện. Số là nhà cô hai đối diện với nhà Nở. Tiếng nồi niêu xoong chảo va vào nhau loạn xạ, một chú nào đó từ trong nhà bước ra, trong tay cầm một con dao, giơ ngang trước mặt cô tư Sáng rồi quát:
“Mầy giỏi thì nói lại đi. Nhà này đâu tới lượt mầy lên tiếng.”
“Em xin anh, em nhỡ lời, em xin anh…”
Cô tư Sáng vừa khóc lóc vừa van xin, giọng ngọt xớt. Mọi người đứng xem xì xào bàn tán, tôi nghe loáng thoáng người ta nói với nhau:
“Vậy cho chừa, không biết thằng này ở với nó được mấy tháng.”
Cái điệp khúc đó được lặp đi lặp lại từ năm này qua tháng nọ.
Tôi đưa mắt tìm Nở, không thấy. Nở có một thân hình nở nang, tôi luôn nghĩ cái tên của Nở bắt nguồn từ vẻ ngoài đầy đặn ấy. Nở thừa hưởng nét đẹp của cô tư Sáng. Dưới góc nhìn của một con bé mười sáu tuổi lúc bấy giờ, Nở đẹp, mỗi lúc cười lên rất có duyên. Nhưng người khác thì không nghĩ vậy, họ bảo Nở đen nhẻm, xấu xí, dáng người thô kệch, luôn bốc mùi. Lạ là, cái mùi toát ra từ Nở lại làm tôi thấy thương cảm cho Nở hơn.
Thỉnh thoảng, tôi tò mò không biết Nở có chú ý đến tôi như tôi dành sự quan tâm của mình cho Nở không? Thường thì tôi có ngay câu trả lời sau đó. Nở đâu có ăn ở không như tôi để mà rảnh rang suy nghĩ hàng tá thứ linh tinh trên đời.
Đôi ba lần gì đó, tôi bị thằng câm chọc ghẹo, nó ú ớ, cười nham nhở, mặt tôi tái mét, bỏ chạy. Tôi càng chạy, thằng câm càng chạy nhanh hơn đuổi theo tôi, rồi thỉnh thoảng nó còn cầm theo con dao thái lan huê huê khắp chốn, ai thấy cũng ngán ngẩm. Những lúc như thế, Nở sẽ xuất hiện, lên giọng.
“Đi vô, đi vô nhà.”
Nở vừa nói vừa nắm tay dắt thằng câm đi vào nhà. Thằng câm có vẻ sợ Nở. Tôi cũng vì đó mà yêu mến Nở hơn. Mà không chỉ có tôi, cả xóm này, ai cũng yêu mến Nở. Mọi người bảo cái nhà đó có con Nở là hiểu chuyện, còn lại chỉ toàn một đám phá làng phá xóm.
2. Thị ngồi xuống bên cạnh mẹ. Thị đưa cho mẹ chai dầu gió, mẹ thị cầm chai dầu tha vào những vết bầm trên mặt, trên tay. Thị nhìn mẹ thị, vừa khóc vừa nói.
“Mẹ, mẹ…mẹ đuổi ông ta đi đi. Ông ta có gì tốt lành đâu chứ. Mẹ…”
Thị chưa kịp nói thêm hết câu, mẹ thị đã quát.
“Mầy biết gì mà nói. Im đi. Tao có thể không có tụi mầy, nhưng tao không thể sống thiếu anh Thanh.”
“Tại sao cứ phải là ông ta vậy mẹ? Lúc nào mẹ chả bảo thế. Lúc nào mẹ chả bảo là mẹ không thể sống thiếu ai đó. Nhưng sau đó không phải luôn có những người khác thế chỗ vào hay sao hả mẹ? Có thể là một người tốt hơn ông ấy mà, chắc chắn có mà.”
Mẹ thị đảo mắt liên tục, hai mắt trợn tròn lên, mẹ thị không tin những câu nói vừa rồi được xuất phát từ thị. Đến cả thị cũng không dám tin người vừa nói những câu trên là thị nữa mà.
“Ý mầy là mẹ mầy là một con đàn bà trách nết hư thân phải không? Thiên hạ dạy mầy bao nhiêu câu đó hả? Họ còn nói gì về tao nữa không? Sao mầy không nói hết luôn một thể, như là họ nói tao hết thằng này rồi đến thằng khác, như là họ nói tao là một con đàn bà lăng loàn. Mày chửi luôn một lần vào mặt con mẹ mầy luôn đi.”
Mẹ thị đứng phắt dậy, đi ra ngoài hiên, bỏ mặc thị cùng một đống hỗn độn. Từng câu từng chữ mẹ thị nói như cứa vào tận tâm can của thị.
Từ ngày thị bắt đầu ý thức được thế giới xung quanh, thị chưa một lần được biết cha của thị là ai, giả chăng có hôm nào đó thị thốt lên tiếng “cha” thì cũng bởi thị bị ép. Mẹ thị vẫn hay ép thị gọi những người đàn ông mẹ dẫn từ đâu về như vậy. Người đàn ông này đã là người thứ năm, và trận đòn lần này của mẹ có lẽ thị cũng không đếm được là lần thứ bao nhiêu. Thị nghĩ bụng, tối nay lại là những tiếng rên rỉ khoái lạc, rồi vài ngày lại là những trận đòn tới tấp. Thị tưởng thị đã quen với cảnh này, nhưng hóa ra không phải, thị chưa từng quen.
Mặc kệ những lời khuyên can của thị, mẹ thị vẫn một mực chọn lựa cuộc sống như thế. Thị biết người ta xem mẹ thị là một con đàn bà chẳng ra thể thống gì, nhưng thị cũng biết mẹ thị vẫn yêu thương ba đứa con của mẹ lắm. Những người đàn ông mẹ dẫn về, có thể đánh đập mẹ, mẹ chịu, rồi cứ thế sống với người ta, miễn người ta không được đụng chạm tới thân thể của thị.
Cũng như mẹ, thị ở lại ngôi nhà này, vì thương hai thằng em. Thị may mắn hơn hai đứa nó, thị là một đứa trẻ biết nói biết cười, biết nghĩ, biết thể hiện cảm xúc. Thị muốn kiếm thật nhiều tiền, có tiền thì cuộc sống gia đình của thị sẽ tốt hơn, thị luôn tin như vậy. Cái nghèo, cái khổ mới khiến mẹ thị túng quẫn tới mức bấu víu vào chút ít tình thương nhỏ nhoi của những người đàn ông xa lạ khác. Khi người ta khổ quá, mạnh mẽ cũng dư thừa. Thị bỏ ngoài tai tất cả những lời chửi bới của mọi người về hai thằng em, về gia đình của thị, thị thương chúng nó, miễn chúng nó đừng làm tổn hại ai, thị cũng sẽ chịu đựng như thế, cả đời.
3. “Hai anh em thằng câm kìa tụi bay, ném nó…ném nó…”
Tiếng bọn trẻ con trong xóm hô hào nhau. Trong tay bọn trẻ đang cầm một mớ đá vụn, vừa dứt tiếng hô, chúng thi nhau ném đá về phía hai thằng em của thị.
“Cho mầy chết nè, cho mầy chết nè…”
Thị kéo hai thằng em về phía sau, một mình thị hứng trọn hết gạch đá của bọn nhỏ. Thằng câm không chịu đứng im, nó quơ tay quơ chân, thằng khờ thì hoảng loạn nắm chặt vạt áo của thị. Đá rơi bịch bịch vào người thị, rồi thị la, chúng bỏ chạy. Kể ra cái thân hình đồ sộ của thị cũng có lúc phát huy được tác dụng. Thị dẫn hai thằng em về nhà, giúi vào tay hai đứa một nắm xôi, thành quả cả buổi sáng của thị.
Thị lại lang thang cùng khắp ngóc ngách của xóm chợ, thị nhặt những chiếc bánh rơi vãi trên nền đất, cẩn thận phủi sạch sẽ bỏ vào cái túi ni lông mang theo bên mình, lúc nào mệt quá, thị ngồi phịch xuống đất, bỏ cái mũ trên đầu xuống trước mặt, giơ giơ ra rồi xin từng đồng bạc lẻ của mấy cô ở chợ. Thị ngồi đến trưa thì trở về, lúc này chợ cũng tan. Buổi chiều thì tới phiên của hai thằng em ở khu chợ chiều. Một ngày như thế, số tiền chị em thị kiếm về cũng đủ để cả gia đình thị ăn uống qua ngày, thỉnh thoảng thị thấy mẹ thị lấy tiền đó cho những người đàn ông của mẹ nữa. Thị biết hết. Giả như điều đó có thể làm mẹ vui trong thoáng chốc, thì cũng đâu có sao. Thị đâu có cách gì để mẹ vui hơn như vậy.
***
Trưa hè oi ả dưới bụi tre già, tôi thấy những người đàn bà xóm tôi lại tụ tập nói chuyện, từ chuyện đồng ruộng, tới chuyện phim ảnh, tất tần tật những thứ có thể nói. Những giây phút ấy, tôi hiểu bình yên là gì! Sự hiếu kỳ của tôi trỗi dậy, khi tôi thấy hình dáng của Nở. Nở ngồi chiếm hết một vùng đất lớn. Tôi len lén mẹ, chạy ra.
“Con bé này dễ thương ghê á.”
Mỗi lần thấy tôi, câu cửa miệng của Nở luôn là vậy. Có thể vì Nở hay khen tôi, nên tôi cũng thích được nghe Nở nói chuyện.
“Dạ, Nở cũng dễ thương.” – Tôi nói lí nhí trong miệng như sợ Nở nghe thấy.
“Nay xin được nhiều không Nở?”- Bà bảy hỏi.
Nở thở hổn hển, cười rồi đáp bằng chất giọng ồm ồm quen thuộc.
“Nhiêu này nè.”
Tôi chăm chú nhìn cái túi ni lông với những vụn bánh nhàu nhĩ, đầy bụi cát.
“Ê Nở, sao mầy đi xin chi cho cực vậy? Nai lưng ra nuôi con mẹ mầy với cái thằng côn đồ đó chi. Mầy không ngán hả?”
Bà bảy vừa hỏi xong thì đến lượt cô hai lên tiếng.
“Tao thấy mầy đi đâu đó làm ăn đi Nở, chứ sống trong ngôi nhà đó biết đến khi nào mới ngóc đầu lên nổi. Mẹ mầy thì chẳng ra làm sao, thêm hai thằng em không được tích sự gì. Mầy cũng đâu còn nhỏ nữa, rồi mầy phải tính tới chuyện có chồng. Ở cái đất này, đố thằng nào dám lấy mầy làm vợ á Nở.”
Chắc cô hai nói đúng ý bà bảy, nên bà lại hỏi tiếp.
“Hông lý mầy tính đi ăn xin cả đời hả Nở?”
Nở không trả lời. Nở lấy tay lau từng giọt mồ hôi trên trán, đôi bàn tay bám bẩn tạo thành những vệt loang lổ trên mặt Nở. Nở quay sang hỏi tôi.
“Bé học lớp mấy rồi bé?”
Tôi đơ người ra, Nở không nhớ hay là tôi chưa từng trả lời cho Nở. Hình như mỗi lần gặp tôi, Nở luôn hỏi những câu hỏi tương tự như vậy.
“Dạ, lớp mười á Nở.”
“Lớp mười là biết đọc chưa bé?”
Bà bảy nghe Nở hỏi, tranh phần trả lời.
“Nó học không tới đâu rồi na mà biết đọc gì nữa mầy.”
Lần này tôi không thấy Nở cười. Nở đứng dậy, phủi phủi mông rồi xách túi ni lông đi về. Tôi nhìn theo Nở, thấy hiếu kỳ vơi đi.
4. Dạo này, thị nghe mẹ thị nói nhiều về vấn đề sẽ tìm một việc gì đó cho thị làm. Thị vui lắm, nhưng khi mẹ thị nói công việc đó phải rời xa hai đứa em, phải đi khỏi nơi thị đã gắn bó suốt mười bảy năm qua, thị chột dạ. Thị cố gắng vận dụng hết trí óc của mình để tìm những câu từ hợp lý nhất nhằm bày tỏ mong muốn của thị cho mẹ thị hiểu. Thị không muốn phải rời khỏi nơi này. Nhưng, ngẫm lại, mẹ thị nói cũng đúng. Ở cái xóm này không ai muốn nhận thị về làm, kể cả việc đơn giản nhất là cuốc đất, cắt lúa, người ta cũng không thèm mướn thị. Thị đâu dám trách ai, ai mà không sợ mang thêm phiền phức về mình chứ, dù có khi phiền phức đó chỉ nằm trong tưởng tượng.
Thị cũng không dám nghĩ nhiều, rằng vì sao người ta thương cảm cho thị nhưng lại không ai muốn ra tay để giúp thị có công ăn chuyện làm, họ sợ gì chứ? Vì xuất thân của thị hay sao? Thị chưa từng làm một việc gì đó ảnh hưởng tới ai, thậm chí nếu có thể thị vẫn rất muốn giúp ai đó bất cứ điều gì, như có lần thị giúp bà bảy trông con chó, như có lần thị giúp bà hai bị ngã đứng dậy, rồi một lần nào đó thị còn cho hết thức ăn mình xin được cho con chó nhà bà bảy chỉ vì thị nghĩ nó đói.
Thị đã từng có ý định học chữ, thị muốn được đi học, thị chỉ muốn biết đọc, thị không muốn nghe người ta nói thị là đồ vô học, đồ ngu hay những từ ngữ miệt thị khác. Thị nghĩ đến con bé An, con bé luôn chăm chú mỗi khi nghe thị nói chuyện, bằng cách nào đó thị nghĩ rằng bé An có thể dạy cho thị biết đọc. Nhưng hôm đó, thị mới biết bé An đã học tới lớp mười, An đã học được rất nhiều thứ, và thị biết An cũng không mấy bận tâm đến thị, kể cả việc thị mong muốn biết con chữ đến thế nào.
Thị không rõ An bao nhiêu tuổi, nhưng chắc chỉ nhỏ hơn thị một hay hai tuổi gì đó thôi. Vậy mà, nhìn dáng vẻ bên ngoài khéo người ta lại tưởng thị là mẹ của An cũng có khi. Thỉnh thoảng, đi xin ăn về sớm, mỗi lúc đi ngang qua nhà An, thị cố gắng đi thật chậm, hôm nào thị cũng thấy An ngồi đọc sách. Có bữa thì thị bắt gặp An và gia đình quây quần bên mâm cơm. Thị ngưỡng mộ An lắm. Đối với thị, thế giới của An là cả một bầu trời mơ ước, một thế giới mà thị biết chỉ có nằm mơ thị mới có cơ hội chạm vào được. Biết là một chuyện, còn có ngăn được mình suy nghĩ về chuyện đó hay không lại là một chuyện khác. Thị chưa từng ngừng nghĩ về điều ấy, về một giấc mơ hoang đường. Thị, dù rất muốn kết thân với An, nhưng thị hiểu hơn ai hết thị không thể, giữa thị và An được ngăn cách bởi một hàng rào vô hình nào đó, vĩnh viễn không bao giờ xóa nhòa được. Thị muốn An gọi thị là Nở, còn thị chỉ dám gọi An là bé. Thị bắt gặp ánh mắt của An trong những trận cãi vã giữa mẹ thị với người đàn ông của mẹ, thị trốn biệt vì xấu hổ. Thị nhìn thấy An quan tâm đến thị qua một vài món ăn vặt mà An bảo là ăn rất ngon. Thị cũng biết được cả cuộc đời của thị chỉ có thể gọi An là bé. Dù thị vô cùng khao khát về một tình bạn, về một ngày có thể được gọi An là An, bạn An, nhưng chuyện đó nào có thể.
5. Khi tôi học lớp mười một, thật tình cờ tôi được biết đến một tác phẩm văn học có nhân vật mang cái tên y hệt của Nở. Một người đàn bà được miêu tả có ngoại hình “ma chê quỷ hờn” nhưng ẩn sau vẻ bề ngoài xấu xí lại là những phẩm chất vô cùng đáng quý. Lúc bấy giờ, tôi bất chợt nhớ đến Nở. Hình như đã lâu lắm rồi, tôi không còn thấy Nở lủi mình trong những phiên chợ, cũng đã lâu lắm rồi tôi không còn thấy Nở ngồi thở hổn hển bên bụi tre già. Lâu rồi tôi cũng không có cơ hội đưa cho Nở vài cái bánh cam mẹ mua ở chợ, Nở không còn xuất hiện ở xóm tôi nữa nhưng bắt đầu từ khi nào thì tôi không rõ. Nghe đâu, người ta bảo Nở đi làm xa.
Từ ngày Nở đi, hai thằng em Nở lộng hành khắp xóm, bọn trẻ con không đứa nào dám bén mảng đến gần nhà Nở. Thỉnh thoảng trong những câu chuyện từ xóm trên xuống xóm dưới, tôi vẫn nghe người ta nhắc nhiều đến Nở. Nở lớn hơn tôi một tuổi, nhưng tôi chưa một lần gọi Nở là chị. Đấy là yêu cầu của Nở, Nở thích được người khác gọi bằng tên. Dần dà tôi quen miệng, cứ thế gọi Nở là Nở. Mà thật ra tôi vẫn thích gọi Nở như vậy, cảm giác giữa tôi với Nở là những người bạn của nhau, giống như cái cách tôi vẫn hay gọi những đứa bạn bên cạnh mình. Có được một người bạn như Nở, chắc là tôi sẽ nhảy cẫng lên vì vui sướng. Tôi cũng không biết tại sao tôi lại có suy nghĩ đó, chỉ là tôi thấy thương cho Nở, nhiều lắm!
Nói về cô tư Sáng, mọi người bàn ra tán vào về việc cô lại dẫn về một người đàn ông khác, rồi nghe đâu cô sinh được một đứa con gái, sau đó bán cho một cặp vợ chồng hiếm muộn nào đó. Lâu lâu tiếng chì chiết, la hét kèm theo những âm thanh đổ vỡ trong ngôi nhà của cô tư Sáng vẫn vang vọng, mọi người quá quen với điều đó, nên chẳng mấy ai bận tâm đến nữa. Chỉ có Nở là không một ai hay biết Nở ở đâu và làm gì. Chẳng một ai mảy may quan tâm đến điều đó. Có lẽ người ta cũng đã vô tình quên mất sự tồn tại của Nở ở cái xóm nghèo này, cũng như tôi.
Bẵng đi một thời gian dài, đâu đó khoảng hơn hai năm, tin dữ đồn khắp xóm, Nở mất. Ngày tôi nghe mẹ nói, không hiểu sao nước mắt cứ thế tuôn dài. Không có đám tang nào diễn ra, mọi thứ yên ắng như ngày Nở mới rời đi. Tôi nghe người ta bảo Nở mất vì quá mập, ừ thì người ta cũng chỉ đang tìm một lý do để hợp thức hóa cho sự ra đi của Nở mà thôi. Sự ra đi của Nở như một gáo nước lạnh đổ ập vào người tôi. Kể cả trong giấc mơ tôi cũng không nghĩ được rằng, lần nhìn Nở xách túi ni lông lại là lần cuối cùng tôi được thấy Nở.
Thời gian sau này, gia đình cô tư Sáng có vẻ khấm khá hơn, tôi nghe đâu hai đứa con cô được nhận trợ cấp từ nhà nước, cô bây giờ đang sống cùng một người đàn ông khác, tử tế, có lẽ đây cũng là người đàn ông ở bên cạnh cô tư Sáng lâu nhất, tôi vẫn thường thấy hai vợ chồng cô tình tứ, hạnh phúc mỗi lúc xuất hiện, tiếng cãi vã cũng vơi dần đi theo năm tháng. Thằng câm với thằng khờ cũng không còn dọa nạt bọn trẻ con nữa, hai đứa đã lớn và có vẻ ngoan hơn trước rất nhiều. Rồi tôi lại nghe người ta nói, gia đình cô tư Sáng được như bây giờ là nhờ có Nở phù hộ.
Lẽ nào người mất rồi mới có thể làm được những việc mà lúc sống người ta không thể nào làm được hay sao?
Hết.
Truyện ngắn đã được đăng trên Tạp chí Văn nghệ TpHCM.


